Chốc chiều dễ chịu đựng được hơn. trực tính sau bữa trưa anh đặng lãnh

Đây là sở trường của Winston, và trong hơn hai tiếng anh loại được hình ảnh của cô gái khỏi óc anh. Sau đó gương mặt cô lại hiện ra trong ký ức anh, cuốn theo một sự thèm   xem boi tinh yeu theo ten   muốn được ở một mình dữ dội không chịu nổi. Không ở yên một mình anh không thể suy nghĩ được gì về diễn cảnh mới lạ này. Tối nay là một trong những tối anh phải có mặt tại Trung Tâm Cộng Đồng. Anh nuốt thêm một bữa cơm vô vị tại quán ăn trong sở, chạy nhanh tới Trung Tâm, tham gia trò hề trịnh trọng của một "nhóm thảo luận", đánh hai ván bóng bàn, nốc mấy cốc rượu gin và ngồi một nửa tiếng nghe một bài diễn văn về "Mối quan hệ giữa Anh Xã và cờ tướng". Tâm hồn anh run lên vì chán ngán, nhưng được cái lần này anh không có xung lực tránh buổi họp tại Trung Tâm. Trước mấy chữ Tôi yêu anh lòng ham sống đã trào dậy trong anh, khiến sự liều lĩnh vì chuyện nhỏ nhặt bỗng trở thành ngu xuẩn. Mãi tới hai mươi ba giờ, khi anh về tới nhà và lên giường ngủ — trong bóng tối, nơi anh được an ninh, ngay máy truyền hình anh cũng không sợ nếu anh giữ im lặng — anh mới được phép suy nghĩ liên hồi. 
boi tinh yeu theo ten
Vấn   xem boi tinh duyen   đề anh phải giải quyết là một vấn đề cụ thể: làm sao liên lạc được với cô gái và dàn xếp được một cuộc gặp gỡ với cô. Anh không còn đặt giả thuyết cô ta ghim bẫy anh nữa. Anh biết không phải thế, căn cứ trên sự dao động không thể lầm được của cô khi cô đưa mẩu thư cho anh. Rõ ràng cô ta sợ hãi quá sức, như đúng lẽ cô phải sợ. Mà ý nghĩ khước từ bước cầu thân của cô cũng không hề thoáng qua óc anh. Mới năm đêm trước anh còn chiêm niệm việc lấy đá đập vào sọ cô, nhưng điều đó không có gì quan trọng. Anh   coi boi tinh duyen   tưởng tới tấm thân trần truồng trẻ trung của cô như anh đã thấy trong giấc mơ. Anh đã nghi sai cô là một kẻ rồ dại như tất cả đám chúng, óc đầy dối trá và hận thù, lòng cứng như băng. Anh lên cơn sốt với ý nghĩ anh có thể mất cô, tấm thân trắng trẻ có thể lướt xa anh. Điều anh sợ hơn hết là cô có thể đổi ý nếu anh không tiếp xúc mau với cô. Nhưng sự khó khăn thể chất của một cuộc gặp mặt thật lớn lao. Tựa như sự kiếm cách tiến quân cờ khi đã bị chiếu tướng. Quay về phía nào cũng có máy truyền hình dòm ngó. Thực ra, mọi cách liên lạc với cô đã hiện ra trong óc anh nội năm phút sau khi đọc bức thư; nhưng bây giờ có thì giờ suy nghĩ anh kiểm điểm lại từng cách như thể xếp một hàng khí cụ trên bàn. 

Hiển        boi tinh duyen   nhiên kiểu gặp gỡ hồi sáng không thể lập lại được nữa. Nếu cô gái làm việc tại Cục Văn Khố sự thể tương đối giản dị hơn, nhưng anh chỉ có một ý niệm mơ hồ về vị trí trong tòa nhà của Cục Truyện và anh lại không có cớ để tới đó. Nếu anh biết chỗ ở của cô và giờ cô rời sở, anh có thể kiếm cách gặp cô trên đường về; nhưng lò dò theo cô về nhà không ổn vì như vậy nghĩa là phải lảng vảng ngoài Bộ, một việc thế nào cũng bị để ý đến. Còn chuyện gửi thư cho cô qua bưu điện không cần bàn đến. Theo một lệ thường chẳng có chi là bí mật, thư nào   xem boi tinh yeu chinh xac   qua bưu điện cũng bị mở ra đọc. Thật ra, ít ai viết thư. Vì với những tin thỉnh thoảng cần gửi, đã có thiệp in sẵn gồm cả hàng câu, chỉ gạch câu không thích ứng đi là xong. Vả lại anh không biết tên cô gái, huống chi địa chỉ của cô. Cuối cùng anh định rằng nơi an toàn nhất là quán ăn trong sở. Nếu anh gặp được cô ngồi bàn một mình, tại khoảng giữa phòng ăn, không quá gần máy truyền hình, với tiếng rì rào xung quanh đủ lớn — nếu những điều kiện đó kéo dài độ hai mươi giây, anh có thể trao đổi vài lời với cô. 

Một   boi tinh yeu   tuần sau đó, đời sống anh trôi như một giấc mộng chập chờn. Ngày hôm sau cô gái chỉ xuất hiện tại quán ăn khi anh rời quán và khi tiếng còi đã thổi. Chắc hẳn cô bị đổi sang toán làm việc sau. Họ qua mặt nhau không một cái nhìn. Hôm sau nữa cô   xem boi tinh yeu chinh xac   gái tới quán ăn vào giờ thường lệ, nhưng đi cùng với ba cô khác và ngồi ngay dưới một máy truyền hình. Rồi trong ba ngày khủng khiếp kế tiếp cô không xuất hiện chút nào. Cả tâm hồn lẫn thể xác Winston hình như mắc phải một chứng nhạy cảm ghê gớm, một tính thấu suốt khiến mỗi cử chỉ, mỗi tiếng động, mỗi sự đụng chạm, mỗi lời phải nói phải nghe trở thành một nhục hình. Ngay trong giấc ngủ anh cũng không thoát được hình ảnh cô gái. Anh không rờ tới nhật ký trong những ngày đó. Nếu có khuây khỏa thì có vào lúc anh làm việc, khi ấy anh có thể thỉnh thoảng quên mình trong mười phút liền. Anh hoàn toàn không làm sao biết được cô gái ra sao. Anh không có cách nào hỏi thăm cô. Có thể cô bị hóa hơi, có thể cô đã tự tử, có thể cô bị thuyên chuyển đi cuối chân trời Đại Dương: và khổ hơn nữa và có lẽ đúng hơn nữa, có thể cô đã đổi ý và quyết định tránh mặt anh. 

Một đợt sóng đập khoẻ ra bãi. boi tinh yeu Anh khẽ mỉm cười, đầu cúi thấp xuốn

Những vụn đá li ti ánh lên từ lớp hắc ín của con đường, anh nghe rõ tiếng lạo xạo cuả những viên đá cuội trôi theo lượt sóng rút đi, và anh lên tiếng hỏi, đánh tan niềm im lặng:
- Ai?
- Pierre
- Pierre à?
- Dạ, Pierre
- A!
Olivier   boi tinh yeu   ngước mắt nhìn lên: những vì sao lần lượt tắt dần, hai ánh lửa cách khoảng nhau, xanh và đỏ, lần lượt thắp lên trong bầu trời. Trong giây phút, anh tưởng tượng những cái đầu ngả trên ghế, những mí mắt lim dim dưới ngọn đèn khuya, những thân thể chuyển dịch trong đêm tối về một thành phố nào đó ở phía Nam. Có thể là Madrid, hay Beoyrouth ... Anne sắp sửa lên đường ... Đó là một người đàn bà ... Anh không bao giờ mơ tưởng đến cô như một người đàn bà, cũng như một đứa con gái, đúng hơn cô là một đứa trẻ đời đời còn bé bỏng ...
Tiếng phi cơ rì rầm còn vang vọng bên tai anh trong khi anh lên tiếng hỏi bằng một giọng lơ đãng và đứt quãng như thể anh đang châm một điếu thuốc trong lúc nói chuyện:
- Và hắn yêu em chứ?
- Em không biết nữa ... Anh ấy cho rằng anh ấy yêu em. Anh ấy buồn quá đỗi mỗi lúc gần em ...
- Hắn buồn với tất cả mọi người, em biết mà.
- Em chỉ biết một điều là anh ấy cần tới em.
- Đó là người bạn thân nhất của anh, người bạn duy nhất của anh ... Em không thể chọn khéo hơn.
Anne chợt chắp hai tay, đôi môi như toát lên một lời cầu xin thơ dại, rồi đôi mắt dịu dàng, như đôi mắt cô gái Việt Nam, chợt khẽ nhìn từ ngực Olivier xuống rồi nhắm lại.
- Anh không chịu hiểu ...
Anh không đáp và bước ra xa, tự nhiên như một kẻ đang tiếp tục đi trên con đường của mình, dửng dưng, với bước chân lang thang của mình; đoạn anh quay lai, liếc nhìn Anne, trong khi vẫn đứng trông nghiêng bên góc đường, mắt nhìn chăm chăm và tư lự, giống như cậu bé ngày nào bà Androuze vẫn thỉnh thoảng dẫn đi thăm công trường vào những ngày   xem boi tinh yeu qua ten   thứ năm (với hy vọng một ngày nào đó, đến lượt anh điều khiển xí nghiệp của gia đình) và đã từng đứng trên tấm ván cao, theo dõi từng cử động của từng người một với một vẻ chăm chú đầy giận dữ - cho đến ngày viên đốc công thú nhận rằng điều đó làm bọn thợ khó chịu trong lúc họ làm việc. Anh quày bước trở lại, đi về phía cô, điếu thuốc trên môi, dáng điệu ơ thờ. Anh không nhìn vào mặt cô mà nhìn vào chiếc váy lay động quanh đôi chân trần của cô.
- Kể cũng lạ, hắn không nói gì về điều đó trong những bức thư của hắn ... Mới đây thôi à?
- Em không muốn anh ấy nói điều đó với anh.
Xem boi tinh yeu qua ten Không biết chừng nào hắn mới tới đây! Berthe nói.
Chị mặc một chiếc áo dài hoa. Chị nhìn quanh nhưng không nghe ai lên tiếng trả lời. Dầu sao không đợi gì có hắn người ta mới ngồi vào bàn ...
Chị nhún vai và uống một hơi đến hết ly rượu. Chị có vẻ dao động, nóng lòng như thể Pierre chỉ đến vì chị. "Anne à, con gà của em trông thật ngon lành!" Chị chợt nhíu mày, như đang lo nghĩ về một điều gì, và rồi chị ngẩng đầu nhìn lên và tặc lưỡi. Chị có vẻ như đang thích thú với chính những cử chỉ của mình.
- Có thể hắn gặp tai nạn chăng? Hay là xe bị ban? Em thấy sao hở Olivier?
-   xem boi tinh yeu   Em chả biết gì hết! Chị quấy rầy tất cả mọi người.
Berthe mỉm cười một cách đỏng đảnh và thì thầm: "Có duyên lắm!" bằng một giọng ngắn ngủi, lạnh lùng. Đoạn chị ngẩng đầu lên, mũi khẽ rung lên trong thứ tình cảm sung sướng, nóng nảy, chị hít mạnh từng hồi cái mùi hàng vải và mùi trái cây đang thấm đẫm bầu không khí trong phòng ăn.
- Mẹ không nên ngồi dậy. Con thấy mẹ hãy còn yếu.
- Hôm nay mẹ thấy đỡ rồi, bà Androuze nói.
- Con ngại cái điều mà mẹ thấy đỡ đó lắm, Berthe nói. Chiều nay người ta sẽ biết bác sĩ Le Gall nghĩ sao về điều đó.
Chị nhìn chăm chăm vào mọi người bằng con mắt vờ vĩnh: rõ ràng họ cố tình không trả lời trả vốn gì cho chị.
Từ nãy giờ, Olivier mãi đùa với mẩu ruột bánh mì. Chị nghĩ tiếp: Vả chăng, có lẽ cậu ta đang dò xét hết thảy các người đó!

Họ đang ngồi uống café trong phòng khách thì nghe có tiếng quân nhạc.
- Dàn quân nhạc ở Portsaint đó! Berthe kêu lên. Họ đang đi ngược về phía Bertheaume. Tôi đọc thấy điều đó trong tờ Miền Tây nước Pháp- Tại sao?
- Anh hỏi thật chứ anh?
- Em biết hắn sắp được bổ nhiệm đi Beyrout chứ?
- Kìa! Anh Olivier ...
Cô lắc đầu, anh tiến đến gần hơn nữa, đặt một bàn tay lên cổ cô, vuốt ve sợi dây chuyền mạ vàng của miếng mề đay cô đeo.
Trời lạnh rồi, ta về đi.

Cặp mắt xanh tồi tệ của ông lão đưa từ bảng bia phi tiêu đến quầy rượu

Sau cùng ông nói: "Bia trước đây ngon hơn ! Và rẻ hơn ! Hồi tôi còn trẻ, bia nhẹ — mà chúng tôi gọi là la ve — có bốn xu một panh. Đó là trước khi có chiến tranh, cố nhiên." 

"Chiến tranh nào cơ ạ ?" Winston hỏi. 

"Các chiến tranh," ông lão xem boi 2015 mập mờ đáp. Ông bỏ kính ra, ưỡn thẳng vai lại. "Chúc anh sức khỏe dồi dào !" 

Trái cổ nhọn của ông ta lên xuống thật nhanh trong cuống họng hẹp, và bia bị nuốt biến. Winston tới quầy rượu rồi trở lại bàn với hai nửa lít nữa. Ông lão hầu như quên thành kiến đối với sự uống cả lít. 

"Cụ nhiều tuổi hơn tôi nhiều," Winston nói. "Chắc cụ đã trưởng thành khi tôi chưa chào đời. Có lẽ cụ nhớ ngày xưa ra sao khi chưa xảy ra Cách Mạng. Những người đồng lứa với tôi thực sự không biết gì về thời đó. Chúng tôi chỉ biết qua sách vở, mà những điều ghi trong sách chửa chắc đúng. Tôi mong biết ý kiến cụ. Sách sử bảo đời sống trước Cách Mạng khác hẳn bây giờ. Hồi đó, sự áp bức, bất công và nghèo nàn ghê gớm quá sức tưởng tượng của con người. Tại Luân Đôn này, đại quần chúng không bao giờ có đủ ăn từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. Một nửa dân số không có cả giầy ống để đi. Họ làm việc mười hai tiếng một ngày, bỏ học khi lên chín, ngủ cả mười người trong một phòng. Trong khi đó, có một thiểu số, xem boi chỉ vài ngàn người — gọi là dân tư bản — giàu sang thế lực. Họ là chủ hữu của mọi thứ có thể có được. Họ sống trong những tòa nhà rộng rãi và lộng lẫy với hàng ba chục đầy tớ, họ di chuyển trong xe hơi và xe tư mã, họ uống rượu xâm banh, họ đội mũ cao thành —" 

Ông lão bỗng sáng mặt lên. 

"Mũ xem boi ngay sinh cao thành !" ông ta nói. "Lạ sao anh lại nhắc tới nó. Mới hôm qua tôi cũng nghĩ đến vật này. Tôi không hiểu tại sao. Nghĩ đến, thế thôi. Sao bao năm rồi tôi không thấy nó. Nó biến đâu mất ấy. Lần cuối tôi đội nó là bữa tôi đưa đám ma chị dâu tôi. Và bữa đó — nhưng tôi không nhớ rõ ngày — vào khoảng năm mươi năm trước. Cố nhiên, anh cũng hiểu, mũ ấy tôi thuê đặc biệt cho hôm đó." 

"Chuyện mũ cao thành không quan trọng lắm," Winston kiên nhẫn nói. "Điều đáng kể là dân tư bản kia — họ và số luật sư, thầy tu, vân vân, sống bám vào họ — thời đó làm chúa tể thế giới. Mọi sự chỉ có trên đời để phục vụ họ. Các cụ — thường dân và dân lao động — làm nô lệ cho họ. Họ muốn làm gì các cụ thì làm. Họ có thể chuyển các cụ xuống tàu như thể một đàn bò sang Gia Nã Đại. Họ có thể ngủ với con gái các cụ nếu họ muốn. Họ có thể ra lệnh quật các cụ với một cái gọi là roi chín đuôi. Các cụ phải ngả mũ khi qua mặt họ. Dân tư bản nào cũng có một bầy lâu la đi theo —" 

Mặt ông lão lại sáng lên. 

"Lâu xem boi theo ngay sinh la !" ông ta nói. "Nè, đã từ lâu tôi không nghe thấy tiếng này ! Lâu la ! Tiếng quen thuộc đó làm tôi trở về xưa, thật đó. Tôi nhớ — ồ, hàng bao năm trước — tôi thường ra công viên Hyde vào chiều chủ nhật để nghe mấy trự diễn thuyết. Đội quân Cứu thế, dân Công giáo, dân Do Thái, dân Ấn Độ — có đủ loại người. Có một gã — nhưng tôi không nhớ tên hắn, đúng là một kẻ ăn nói hùng hồn. Hắn không nhẹ miệng chút nào. "Đồ lâu la !" hắn nói, "đồ làm lâu la cho giới tư sản ! Đồ làm bồi cho giai cấp cầm quyền !" Một tiếng rủa nữa là quân ăn bám. Và còn linh cẩu nữa, hắn quả có gọi chúng là đồ linh cẩu. Dĩ nhiên anh cũng hiểu, chúng đây chỉ Đảng Lao Động." 

Winston xem boi có cảm tưởng như ông ta nói gà mà anh nói vịt. 
xem boi
"Điều xem boi tôi muốn nói là như thế này," anh bảo. "Cụ có thấy cụ có nhiều tự do hơn hồi đó không ? Cụ có được đối xử như một con người hơn trước không ? Thời xưa, dân giàu sang, dân trên chóp bục —" 

"Thượng nghị viện," ông lão nhắc. 

"Ừ thì Thượng nghị viện như cụ thích. Điều tôi muốn hỏi là những người đó có xem các cụ như kẻ dưới chỉ vì họ giàu mà các cụ nghèo không ? Chẳng hạn, có đúng các cụ phải thưa "bẩm ngài" với họ và ngả mũ khi qua mặt họ không ?" 

Ông lão có vẻ nghĩ ngợi. Ông uống hết một phần tư cốc bia trước khi đáp: 

"Phải," ông ta nói, "họ thích người ta ngả mũ chào họ. Như để tỏ vẻ xem bói kính trọng. Chính tôi không đồng ý, nhưng tôi đã làm thế khá thường. Bắt buộc phải vậy, như anh có thể nói." 

"Và thói thường — tôi chỉ nhắc lại những điều đọc trong sách sử — thói thường những người đó và đầy tớ của họ có đẩy các cụ ra khỏi hè cho các cụ ngã xuống rãnh không ?" 

"Một xem boi tên có đẩy tôi xuống một lần," ông lão nói. "Tôi còn nhớ như thể là ngày hôm quạ Đó là đêm Đua Thuyền — đêm Đua Thuyền thường ồn ào dễ sợ - và tôi đụng phải một gã trẻ tuổi trên đường Shaftesburỵ Hắn đúng là dân sang — áo sơ mi bảnh, mũ cao thành, áo khoác đen. Hắn đi xiêu vẹo trên hè và tôi vô ý đụng phải hắn. Hắn nói: "Bộ mày không biết nhìn đường hả ?" hắn nói thế đó. Tôi đáp lại: "Dễ chừng anh tưởng anh mua được cái vỉa hè chết tiệt này hả ?" Hắn bảo: "Tao vặn cái cổ chó chết của mày bây giờ, nếu mày láo lếu với tao." Tôi lại đáp: "Anh say rồi. Để chốc tôi cho anh một trận." Và anh tin tôi đi, hắn đưa tay lên ngực tôi rồi xô tôi ngã xéo chút là tôi lăn dưới bánh xe buýt. Nhưng hồi đó tôi còn trẻ, và tôi sắp cho hắn nếm một quả thì —" 

Một cảm giác bất lực xâm nhập Winston. Trí nhớ ông lão chỉ ghi một đống chi tiết vô nghĩa. Có thể tra hỏi ông ta cả ngày mà chẳng thâu được một tin tức đáng kể nào. Các sách sử của Đảng biết đâu xác thực, theo kiểu của c

Đả sao cứt định thắng xem tu vi phần nói láo ? Có trạng thái thật sự nhàng nhàng ra

Nghịch cứ độc nhất là sự phản kháng của xương cốt anh, linh giác rằng những điều kiện sống hiện tại không thể chấp nhận được, rằng phải có thời chúng khác hẳn. Anh bị kích động bởi ý nghĩ rằng đặc tính đúng của đời sống mới không phải là sự ác nghiệt hay bấp bênh của nó, mà chính là sự trống rỗng, vộ vị và vô tâm của nó. Nếu nhìn quanh, đời sống không những không giống những điều dối trá tuôn ra từ máy truyền hình, mà còn không giống những lý tưởng mà Đảng cố thực hiện. Quãng lớn đời sống, ngay đối với một Đảng viên, lừng chừng và không liên quan đến chính trị, nó là vất vả lo toan những công việc tẻ nhạt, là tranh giành một chỗ trong tàu hầm, là vá lại bí tất cũ rách, là xin xỏ một thẻ đường tinh, là để dành một mẩu thuốc lá. Lý tưởng do Đảng dựng lên là một cái gì to tát, khủng khiếp và chói lọi — một thế giới của thép và xi măng, của những máy móc quái gở và những khí giới kinh hồn —, một quốc gia chỉ xem tu vi 2015 gồm chiến sĩ và cuồng đồ hoàn toàn nhất trí tiến bước, cùng nghĩ như nhau, hô hào khẩu hiệu giống nhau, luôn luôn làm việc, chiến đấu, thắng trận và hành hạ người — ba trăm triệu người cùng một gương mặt. Thực tế là những thành phố đổ nát, buồn tẻ, trong đó dân chúng thiếu ăn lê qua lê lại trong những đôi giầy thủng lỗ tại những căn nhà vá víu xây từ thế kỷ xem tu vi mười chín hôi mùi rau cải và chuồng xí thối. Anh hình dung cảnh một thành phố Luân Đôn rộng lớn và đổ nát với một triệu thùng rác, và lẫn vào đó là hình ảnh của bà Parsons, một người đàn bà có khuôn mặt nhăn nheo và bộ tóc rối tung, đang loáy hoáy sửa một ống tháo nước. 

Anh lại cúi xuống và gãi đầu gối. Đêm ngày máy truyền hình làm chói tai người với những con số thống kê chứng tỏ rằng ngày nay dân chúng có nhiều thức ăn hơn, nhiều quần áo hơn, nhà cửa tốt hơn, trò giải trí hay hơn — rằng họ sống lâu hơn, làm việc ít giờ hơn, cao lớn hơn, khỏe mạnh hơn, mập mạp hơn, sung sướng hơn, thông minh hơn, có giáo dục hơn năm mươi năm về trước. Không chứng minh hay bác bỏ được lời nào trong đó. Ví dụ, Đảng tuyên bố ngày nay 40% dân đen đứng tuổi biết xem tu vi đọc: trước Cách Mạng, theo Đảng, con số chỉ là 15%. Đảng bảo rằng ngày nay tỷ lệ trẻ con tử vong là 160/1000 trong khi trước Cách Mạng nó là 300/1000 — và cứ như thế. Y như một phương trình đơn với hai ẩn số. Rất có thể điều nào trong sách sử, ngay cả những điều được chấp nhận không đắn đo, cũng là điều bịa đặt. Theo chỗ anh biết, có thể chưa hề có điều xem tu vi luật nào là quyền đêm đầu tiên, có sinh vật nào là dân tư bản, hoặc có mũ nào là mũ cao thành. 
xem tu vi nam 2015
Mọi xem tu vi sự tan biến trong mù mịt. Qúa khứ đã bị san bằng, sự san bằng đã đi vào quên lãng, sự dối trá đã trở thành sự thật. Chỉ một lần trong đời anh anh đã nắm được — sau sự kiện: thế mới đáng kể — một bằng chứng cụ thể không thể lầm lẫn được về một hành động giả mạo. Anh đã giữ nó trong tay anh đến ba mươi giây. Năm 1973, chắc hẳn thế — dù sao đi nữa, đó là vào lúc anh và Katharine ly thân nhau. Nhưng thời gian hợp lý thực ra là bẩy tám năm về trước. 

Câu xem tu vi tron doi chuyện thực sự bắt đầu vào khoảng giữa những năm sáu mươi, thời kỳ những cuộc đại thanh trừ khiến các lãnh tụ Cách Mạng khởi đầu bị quét sạch. Khoảng 1970 không còn một người nào tồn tại ngoại trừ Bác. Mọi người khác đã bị vạch trần là quân phản loạn hay phản Cách Mạng. Goldstein đã chạy trốn và ẩn nấu ở đâu không ai biết, còn những người khác thì một phần nhỏ mất tích trong khi phần lớn bị xử tử sau khi thú tội trong những phiên tòa công khai. Trong đám xem tu vi người sống sót cuối cùng có ba người tên là Jones, Aaronson và Rutherford. Ba người ấy chắc bị bắt vào khoảng năm 1965. Như thường xảy ra, họ mất tích trong vòng một năm hay hơn, khiến không ai biết họ sống hay chết, rồi bỗng nhiên họ được đưa ra ánh sáng để tự buộc tội như thường lệ. Họ thú tội đã thông đồng với kẻ thù (lúc đó kẻ thù cũng là Âu Á), đã biển thủ quỹ công cộng, đã ám sát nhiều Đảng viên trung thành, đã dùng thủ đoạn chống sự lãnh đạo của Bác, một sự lãnh đạo đã bắt đầu trước Cách Mạng, và đã có những hành động phá hoại làm chết hàng trăm hàng ngàn dân chúng. Sau khi xưng những tội ấy, họ được tha thứ, được thâu hồi vào Đảng, và được giao những chức vụ có tên kêu to nhưng thực sự nhàn rỗi. Cả ba đã viết trong Thời Báo nhiều bài vở dài, đê hèn, phân tích những lý do khiến họ làm phản và hứa sẽ chuộc tội. 

Ít tu vi tron doi lâu sau khi họ được thả, Winston thấy cả ba trong quán cà phê Cây Lật. Anh nhớ lại sức thôi miên ghê gớm lôi cuốn anh liếc nhìn họ. Họ lớn tuổi hơn anh nhiều, họ là di sản của thế giới cũ, gần như là những nhân vật lớn chót của thời anh hùng của Đảng. Uy tín của cuộc tranh đấu ngầm và của cuộc nội chiến phảng phất quanh họ. Anh có cảm tưởng anh biết tên họ sớm hơn biết tên Bác, mặc dầu sự kiện và ngày tháng lúc bấy giờ đang lu mờ. Nhưng họ cũng là kẻ sống ngoài vòng pháp luật, là kẻ thù, kẻ không nên đụng tới, chắc chắn sẽ bị hành quyết một hai năm nữa. 

Tôi mới đặng nghiệp ngành tu vi 2014 đâm quật, dò trước tiên lên đánh tác ở đây

Thục chỉ tay về phía ngôi nhà gỗ xinh xắn nằm dưới thung lũng. Nàng nói:
- Tôi thuê một phòng trong căn nhà ấy.
Hai người theo lối mòn nhỏ đi xuống. Họ ngang qua mấy đám cải bắp xanh tốt đi vào sân nhà.
Vẩn tử vi 2014 Thạch đứng giữa khung cửa hẹp.
Căn phòng trang trí đơn giản, một chiếc bàn học, giá sách nhỏ xíu và một tấm bảng gỗ sơn đen có gắn bộ xương ếch.
Thục cắm hoa vào lọ cao cổ.
Vẩn Thạch nằm trên chiếc ghế dựa ngoài hiên huýt sáo một giai điệu lạ. Thục dọn dẹp qua loa căn phòng của mình, lúc trở ra sân thì Vẩn Thạch đã ngủ quên đi, trên tay còn cầm một cuốn truyện tranh của trẻ con nàng không biết hắn lấy ở đâu.
Thục đứng ngắm những nhà cửa so le mọc quanh cái thung lũng nhỏ bé của nàng. Trời xanh ngắt, êm ả và trong suốt phía sau những ngọn cây những bức tường sáng rực lên trong nắng xế. Chiều đến rất chậm. Nắng đọng lại rất lâu trên những đám mây cao, cảnh vật như tranh vẽ. Thành phố im lặng như không có loài người, như tất cả vừa bỏ đi đâu. Thục yêu Đà Lạt vì thỉnh thoảng nàng lại chợt nhận ra cái vẻ hoang vu ấy.
Thục cứ để yên cho hắn ngủ, nàng quay vào bếp làm cơm định bụng sẽ mời hắn ở lại ăn tối với nàng, nhưng khi mọi thứ xong xuôi trở ra sân thì thấy chỉ còn cái ghế trống. Cuốn truyện tranh đánh rơi một bên. Thục nhặt lên xem. Tranh vẽ một truyện cổ tích dân gian quen thuộc, nét vẽ ngây ngô, đơn giản. Thục lật bìa sau thấy có mấy chữ nguệch ngoạc: Đại uý Hưng 96 đường Hoa tu vi 2014 tuoi dau Quỳ.
***
Đường Hoa Quỳ không phải là xa lạ đối với Thục nhưng trong suốt một tuần nàng cưỡng lại ý muốn đến đó. Nàng không đi ngang qua đó. Nhưng nàng khốn đốn với ý nghĩ rằng hắn sẽ không bao giờ đến đây nữa, điều đó thôi thúc nàng tìm đến hắn. Nàng ngạc nhiên về sự thôi thúc bí ẩn ấy, nó cám dỗ, dẫn dụ nàng như ma quỷ.
Thục boi tu vi 2014 đã ra đứng ngoài sân từ lúc nào. Nàng tưởng tượng hắn đang đứng trên đồi cao một mình lạnh lẽo, gió thổi mạnh làm tung bay chiếc áo măng tô màu đất, cũ kỹ. Hắn đứng cao như cây thông trụi lá. Nhưng hắn đứng đó để làm gì?
Thục bước đi nhẹ nhàng qua các luống hoa, nàng thấy rõ là mình không cưỡng lại được ý muốn đến thăm hắn. Thế rồi nàng hấp tấp vội vàng như thể nếu đến trễ thì hắn sẽ đi mất.
Thục vừa đi vừa nhìn chung quanh, nàng ở trên dốc nơi có trồng nhiều hoa quỳ. Lối đi vào nhà hắn mọc đầy cỏ gấu xen kẽ trong các vết nứt rạn của nền xi măng lâu đời.
Phòng khách mở cửa nhưng không có một bóng người. Thục đứng tần ngần trước sân rồi gõ mấy tiếng rụt rè vào cánh cửa. Chẳng ai đáp lại. Thục đợi một lúc nữa rồi bước vào nhà ngồi thu mình nơi chiếc ghế bành như một cô học trò nhỏ.
Xem tu vi 2014 Em đến thăm anh một chiều mưa. Nhưng nào có thấy mưa gió gì đâu. Chiều nắng êm ả, mịn màng, chiều trong suốt như pha lê. Chiều rực rỡ trên thành phố. Em đến thăm anh một chiều như vậy đó.
Trước tu vi 2014 tuoi ty mặt Thục là bức hình chụp một đôi vợ chồng. Người đàn ông là một viên đại uý với nét mặt có vẻ láu cá hơn là bay bướm. Người đàn bà khá đẹp nhưng đôi mắt dữ. Có lẽ đó là “những người bạn” của hắn. Nàng đợi Vẩn Thạch nhưng không có dấu hiệu gì là có hắn ở nhà. Thục hát nho nhỏ vu vơ:

Lòng tu vi 2014 bùi ngùi nhìn theo chân em
chìm trong ngàn xanh.
Ta ước mơ một chiều thêu nắng.
Em đến thăm quên niềm cay đắng.
Và quên đường về.


Sau đó là im lặng. Thục lật một tờ báo ảnh ra xem. Vẫn không thấy ai xuất hiện. Cuối cùng nàng đành đứng dậy ra về. Đến cổng, nàng thấy Vẩn Thạch từ phía đồi Cù đi lại. Hắn đến và đi lặng lẽ như một cái bóng. Chiếc áo măng tô cũ kỹ màu đất sét, khói thuốc lá và những bước chân thầm lặng trên lối mòn trải đầy lá boi tu vi nam 2014 khô.
- Em đến đã lâu chưa? Vẩn Thạch hỏi:
- Độ nửa giờ. Bây giờ thì em phải về vì đã quá trễ.
Vẩn Thạch cười:
- boi tu vi 2014 Còn đối với anh thì lúc nào cũng quá sớm. Ngày chấm dứt quá sớm. Niềm vui tàn mau. Cũng như đoá hoa hồng trước sân nhà.
Thục hỏi:
- Thế em đến thăm anh như vầy có quá sớm không?
- Em về quá sớm.
- tu vi 2014 tuoi than Còn anh, anh có về quá sớm không?
Hắn ưỡn ngực trong gió, ngước nhìn cụm mây trắng trôi qua những ngọn thông già. Hắn nói:
- Nếu em muốn làm cho anh giận điên lên thì về lúc này là quá sớm.
Thục cười:
- Anh là một kẻ xảo ngôn. Nói chung là xạo.
Vẩn Thạch làm bộ ngạc nhiên:

Mối tình yêu sâu nhan sắc nhất thứ bạn lắm lắp ngay cùng một bài xích hát nào là không?

Một cảnh trí nào không? Như một căn phòng trong đêm mưa mùa hạ? Một chiều thu ngoài bìa rừng hoang vắng? Rừng Na-uy là tên một bài hát của nhóm nhạc Beatles nổi tiếng. Lời ca của nó có những câu "Tôi từng có một cô gái, mà có lẽ đúng hơn là cô ấy đã từng có tôi… Cô dẫn tôi vào phòng và bảo tôi ngồi đâu cũng được, nhưng tôi thấy chẳng có chiếc ghế nào… Khi tỉnh dậy tôi chỉ có một mình, con chim ấy đã bay đi rồi…" Giai điệu và cấu trúc bài hát rất giản dị. Những sự kiện làm biến đổi cả cuộc đời ta thường gắn liền với những cái ngẫu nhiên giản dị. Ký ức khi đã trưởng thành thường cũng chỉ xúc động vì những điều giản dị. Và Rừng Na-uy là một câu chuyện tình yêu giản dị. 
in card gia re chinh hang
Giản dị như sự thật. 
Như bốn mùa. 
Như Sống Chết.  


Như đại thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore đã viết về con tim biết yêu: "Cái giàu cái nghèo của nó là vô biên, niềm vui nỗi buồn của nó là trường cửu." Cái giản dị của Rừng Na-uy là cái giản dị chỉ có được khi người viết đã vượt lên hết những làm dáng có bản chất kĩ thuật vốn rất khó tránh trong sáng tác để chỉ bồi hồi kể lại những gì đang tuôn trào từ sâu thẳm cõi lòng mình. 

Rừng   in card   Na-uy không lãng mạn. Nó không lí tưởng hoá và do vậy không bị lừa mị bởi chính những lí tưởng ấy của mình. Nó dũng mãnh như mũi tên vừa bay ra khỏi cánh cung. Thẳng từ cõi lòng bộc trực và chân xác của kiếp người. Đọc lời thoại trong Rừng Na-uy, tôi chỉ mong mình cũng nói được như thế với người mình yêu mến. Bị lôi cuốn theo những ý nghĩ và xúc cảm trong Rừng Na-uy, tôi cũng chỉ mong mình dám nghĩ được thành lời những gì vẫn cuộn tròn trong lòng mình như vậy. Đọc Rừng Na-uy, tôi chợt nhớ ra rằng hình như mình đã chỉ quen lừa mị bản thân, lừa mị người khác, để bôi trơn mọi mối quan hệ xã hội vốn chỉ xoay quanh và bị chi phối bởi tiền bạc, quyền lợi, danh vọng… Hình như tôi đã quên mất, hoặc đã luôn có ý thức đè nén tất cả những gì gọi là tự nhiên và cao cả của chính mình, hình như tất cả những "người bạn", "người yêu" kia chẳng phải vậy chút nào, vì đã có bao giờ tôi dám nói thẳng lòng mình với họ và biết chắc rằng họ cũng đã nói thẳng lòng họ với mình. Hình như tôi cũng đã chẳng phải là mình, vì đã khi nào tôi thực sự dám nhìn nhận những khiếm khuyết méo mó của mình, có ý thức công nhận chúng và biết vui với chúng, cũng như công nhận và vui với những khiếm khuyết của mọi người. 
Con chim sắp chết, tiếng hót bi thương; con người hấp hối, lời nói chân thành. Tại sao vậy? Chỉ có sự chết mới cứu vãn được loài người khỏi nghiệp chướng dối trá hay chăng? Đọc Rừng Na-uy, tôi thấm thía được một chân lí giản đơn, rằng "sự chết không là đối nghịch của sự sống, mà là một phần của sự sống". Sống, tức là nuôi dưỡng Chết. Sự chết không phải là chấm dứt, cũng chẳng phải là bắt đầu. Nó ở ngay đây rồi, được chính sự sống nuôi dưỡng. 

Và tôi hiểu được tại sao chỉ những nhân vật trung thực trong trắng và dũng cảm trong Rừng Na-uy mới tự kết liễu cuộc đời mình. Họ còn quá trẻ và không đủ kiên nhẫn để hy vọng cuộc đời này sẽ nuôi dưỡng được một cái chết tự nhiên xứng đáng. Và tôi cũng hiểu tại sao nhiều nhà văn lớn của Nhật Bản như Osamu Dazai và Yasunari Kawabata cũng đã chọn cái chết để khỏi phải chứng kiến cái đẹp và cái cao cả đang bị thời cuộc làm nhục. 

Cuộc khủng hoảng của thế hệ trẻ Nhật Bản cuối thập kỷ 1960   in card gia re   trong Rừng Na-uy không phải chỉ là sự đớn đau của linh hồn và thân xác đang phải vượt ngưỡng ngây thơ, mà còn là sự thất vọng lớn lao trước những biến đổi ngu xuẩn của thờỉ cuộc: phép lạ kinh tế của một đế quốc quân chủ thất trận đang khiến cho lòng tin mù quáng vào Thiên Hoàng bị thay thế bởi tín ngưỡng có tính toán vào sức mạnh của đồng tiền và những ước lệ xã hội kèm theo. 

Tôi đọc Rừng Na-uy và nhớ đến Hemingway, Paul Bowls, Kerouac… đến những thế hệ trí thức trẻ tuổi Âu Mỹ sau hai cuộc thế chiến vẫn được gọi là The lost generations - những thế hệ bị tha hoá với chính sự thắng thế và hưng thịnh vật chất của phương Tây, không tìm thấy chỗ đứng của mình trong chốn phồn thực hãnh tiến ấy. Tôi nhớ đến Kundera và cái nhẹ bỗng không thể chịu đựng nổi của kiếp người trong vòng xoáy của những cuộc đổi thay bạo lực. Và tôi cũng nhớ đến câu nói của Alexei Tolstoi: "Những cuộc chiến tranh rồi sẽ chấm dứt, những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét, và sẽ chỉ còn lại mãi mãi tấm lòng dịu dàng và êm ái của em." 

Trong   in card gia re   Rừng Na-uy, thân xác là nơi trú ngụ và phương tiện biểu cảm tự nhiên nhất của tình yêu. Không những hoàn toàn không phải là một "dâm thư", mà ngược lại, Rừng Na-uy là cuốn tiểu thuyết bắt người đọc phải nhận thức được sự ngu xuẩn của mọi thứ dâm tính trong thị trường văn chương, phim ảnh, và trong chính ý nghĩ của con người. Rừng Na-uy chinh phục được độc giả toàn thế giới vì nó đã giúp giới trẻ (và cả những người không còn trẻ nữa) nhận ra cái cao cả theo nghĩa triết học và tự nhiên của tình yêu. Cái cao cả không còn núp bóng lí tưởng và lãng mạn, mà công khai trực tiếp trong tấm lòng trung thực dũng mãnh của tuổi trẻ. 

Đọc Rừng Na-uy rồi, tôi chắc bạn sẽ nghĩ nhiều về bản thân mình. Về người mình yêu. Về bạn bè. Về bố mẹ anh chị em trong nhà. Bạn sẽ nghĩ, và sẽ nhớ đến lời những nhân vật trong Rừng Na-uy, và thực sự cảm thấy sung sướng vì máu nóng đang chảy trong huyết quản bạn, vì bạn đang sống, vì tình yêu là có thực. Và bạn sẽ muốn chạy đến với người mình yêu mến nhất để nói rằng bạn hỡi, chúng ta hãy trung thực với nhau, cùng làm quen và chấp nhận những bất toàn của nhau, vì chỉ có vậy chúng ta mới có thể tìm thấy bình yên và hạnh phúc. 

Nhân vật chính trong Rừng Na-uy tên là Toru Wantanabe.